TIN TỨC
“Vật liệu tỷ đô” của Việt Nam được nhiều nước châu Á săn đón, xuất khẩu thu về hơn 1,2 tỷ USD

11 tháng đầu năm 2023, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 28,7 triệu tấn clinker và xi măng với trị giá hơn 1,2 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% về sản lượng nhưng giảm 2,6% về kim ngạch so với cùng kỳ.

Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu clinker và xi măng của Việt Nam trong tháng 11/2023 đạt hơn 2,5 triệu tấn với kim ngạch 101 triệu USD, giảm 6% về lượng và giảm 8,8% về trị giá so với tháng trước.

Lũy kế 11 tháng đầu năm, cả nước đã xuất khẩu hơn 28,7 triệu tấn clinker và xi măng, tương đương hơn 1,22 tỷ USD, tăng nhẹ 0,4% về sản lượng nhưng giảm 2,6% về trị giá so với cùng kỳ 2022.

Giá xuất khẩu bình quân 11 tháng năm 2023 đạt gần 42,7 USD/tấn, giảm gần 3% so với cùng kỳ.

Hiện nay, 3 thị trường xuất khẩu xi măng chính của Việt Nam là Philippines với tỷ trọng 27,4%; Bangladesh là 16,5%; Malaysia chiếm 5,1%.

Đáng chú ý, xuất khẩu clinker và xi măng sang thị trường Australia trong giai đoạn này đạt hơn 57.000 tấn với kim ngạch 2,87 triệu USD, tăng mạnh 271% về lượng và tăng 232% về giá trị so với với tháng 11/2022.

Sau 11 tháng, Australia chi hơn 23 triệu USD để nhập khẩu 470.000 tấn clinker và xi măng từ Việt Nam, tăng 171% về lượng và tăng 153% về giá trị so với cùng kỳ. Giá xuất khẩu bình quân 11 tháng đạt gần 50 USD/tấn, giảm 6,7% so với cùng kỳ năm 2022.

Theo công bố năm 2022 của Cục Khảo sát địa chất Mỹ, công suất sản lượng xi măng của Việt Nam đạt khoảng 100 triệu tấn, đứng thứ 3 thế giới. Cụ thể, 5 quốc gia có quy mô sản lượng xi măng lớn nhất thế giới gồm có Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Mỹ và Thổ Nhĩ Kỳ.

21
Nội dung

Ngành xi măng khó khăn nhất 100 năm

Tại thị trường nội địa, số liệu thống kế của Bộ Xây dựng cho thấy, 11 tháng đầu năm 2023, sản lượng tiêu thụ xi măng trong toàn ngành đạt khoảng hơn 80 triệu tấn, giảm 12% so với cùng kỳ năm 2022. Trong đó, sản lượng tiêu thụ xi măng ở thị trường nội địa là 52 triệu tấn, giảm 16%; sản lượng xuất khẩu đạt gần 29 triệu tấn, giảm 29% so với cùng kỳ.

Bộ Xây dựng cho biết, sản lượng tiêu thụ giảm mạnh dẫn đến nhiều nhà máy xi măng phải ngừng hoạt động một số dây chuyền lò nung, trong đó có những dây chuyền phải ngừng dài hạn.

Nguyên nhân chính là do thị trường bất động sản trầm lắng trong thời gian dài suốt từ năm 2022 khiến việc triển khai xây dựng các công trình, dự án giảm mạnh, từ đó kéo theo nhu cầu về xi măng phục vụ xây dựng không cao.

Ngoài ra, các dự án đầu tư công, xây dựng kết cấu hạ tầng nhìn chung tiến độ triển khai còn chậm so với kế hoạch cũng là nguyên nhân gây tắc nghẽn đầu ra của chuỗi sản xuất, cung ứng vật liệu xây dựng, trong đó có xi măng.

Để tháo gỡ khó khăn cho ngành xi măng, Bộ Xây dựng đề nghị Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo các chủ đầu tư tăng tỷ lệ sử dụng cầu cạn bê tông cốt thép đối với các dự án đường bộ cao tốc đang trong giai đoạn thiết kế, đặc biệt là ở những vùng có yêu cầu thoát lũ, vùng đất yếu và những vùng thiếu vật liệu đắp nền đường như Đồng bằng sông Cửu Long.

Các địa phương tăng cường sử dụng đường bê tông xi măng cho xây dựng đường nông thôn, miền núi và đường tại những vùng thường xuyên ngập lụt.

Đồng thời, Bộ Xây dựng cũng đề nghị xem xét tạm hoãn tăng thuế xuất khẩu clinker (thành phần chính trong sản phẩm xi măng), giảm thuế suất thuế xuất khẩu clinker về 0% đến hết năm 2025.

Theo cafeland

Bộ Xây dựng nêu loạt giải pháp 'cứu' ngành vật liệu

8 hiệp hội vật liệu kêu cứu vì sản xuất khó khăn, Bộ Xây dựng đề xuất Chính phủ có nhiều biện pháp hỗ trợ như giảm thuế, lãi suất.

Bộ Xây dựng vừa lấy ý kiến các bộ Công Thương, Tài chính, Ngân hàng Nhà nước về các giải pháp gỡ khó cho nhóm ngành vật liệu trước khi chính thức trình Thủ tướng.

Trước đó, 8 hiệp hội gồm: Vật liệu xây dựng Việt Nam, Xi măng Việt Nam, Bê tông Việt Nam, Thép Việt Nam, Gốm sứ xây dựng Việt Nam, Kính và Thủy tinh xây dựng Việt Nam, Tấm lợp Việt Nam, Hội Khoa học kỹ thuật Cầu đường Việt Nam đã đồng loạt kêu cứu vì sản lượng giảm, tiêu thụ khó.

Theo Bộ Xây dựng, nhóm ngành này hàng năm đóng góp gần 7% GDP của Việt Nam. Ngành cũng có vai trò quan trọng trong phát triển kết cấu hạ tầng, tạo động lực phát triển cho kinh tế xã hội. Tuy nhiên, trước tình hình bất động sản trong nước giảm sâu, dự án đầu tư công triển khai chậm, kinh tế toàn cầu bất ổn đã tác động đến đầu ra của ngành cả trong và ngoài nước.

Cụ thể, với xi măng, trong 10 tháng đầu năm, cả nước tiêu thụ được khoảng 72,4 triệu tấn, thấp hơn 4,35% so với cùng kỳ năm ngoái; còn xuất khẩu giảm 2%. Bộ Xây dựng cho biết nếu so với bình thường, từ đầu năm đến nay tiêu thụ nội địa giảm 13-15%. Nhiều nhà máy đã phải ngừng hoạt động để giảm lượng tồn kho. Hiện 8 dây chuyền, tương đương 9% tổng số dây chuyền sản xuất xi măng trên cả nước, đã ngừng hoạt động.

Sản xuất thép trong 9 tháng cũng giảm 21,6%, tiêu thụ giảm gần 20% so với cùng kỳ năm ngoái. Với gạch ốp lát, trong 10 tháng, sản lượng chỉ đạt khoảng 47% so với tổng công suất thiết kế, trong khi tiêu thụ bằng 67% so với sản lượng sản xuất. Lượng bê tông cũng giảm 14%.

Để gỡ khó cho ngành này, Bộ Xây dựng đề xuất Bộ Giao thông vận tải chỉ đạo chủ đầu tư tăng tỷ lệ sử dụng cầu cạn bê tông cốt thép đối với các dự án đường bộ cao tốc đang trong giai đoạn thiết kế, nhất là ở những vùng có yêu cầu thoát lũ, vùng đất yếu và những vùng thiếu vật liệu đắp nền đường như Đồng bằng sông Cửu Long.

Các địa phương tăng cường sử dụng đường bê tông xi măng cho xây dựng đường nông thôn, miền núi và đường tại những vùng thường xuyên ngập lụt.

Bộ Xây dựng và Ngân hàng Nhà nước cùng các địa phương sẽ tiếp tục triển khai gói tín dụng 120.000 tỷ đồng để phát triển nhà ở xã hội, nhà ở công nhân, cải tạo chung cư cũ.

Bộ cũng đề nghị xem xét tạm hoãn tăng thuế xuất khẩu clinker (thành phần chính trong sản phẩm xi măng), giảm thuế suất thuế xuất khẩu clinker về 0% đến hết năm 2025; Giảm lãi vay đối với các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng (có thể giảm đến 2%) cho đến hết năm 2025; Tiếp tục gia hạn, không tính lãi đối với các khoản nợ quá hạn và tái cơ cấu nợ vay để giảm khó khăn cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, trước sức ép từ các sản phẩm nhập khẩu tăng mạnh (ví dụ gạch ốp lát), Bộ Xây dựng kiến nghị Bộ Công Thương điều tra chống bán phá giá với sản phẩm từ một số nước để áp thuế chống bán phá giá khi cần thiết.

Ngược lại, với các doanh nghiệp, Bộ cho rằng cần nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động đa dạng hóa sản phẩm, đổi mới trong sản xuất

Theo vnexpress

Trước năm 2030, sẽ cấp mới giấy phép khai thác hàng trăm khu vực khoáng sản làm vật liệu xây dựng

Đến năm 2030, dự kiến sẽ cấp mới các giấy phép khai thác cho hàng trăm khu vực khoáng sản làm để sản xuất xi măng, đá ốp lát, vật liệu chịu lửa và kính xây dựng.

Phát triển tương xứng với tiềm năng

Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà mới đây đã ký Quyết định số 1626/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản làm vật liệu xây dựng (VLXD) thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050.

Theo đó, quy hoạch nhấn mạnh mục tiêu phát triển bền vững hoạt động thăm dò, khai thác và sử dụng các loại khoáng sản làm VLXD, tương xứng với tiềm năng, đáp ứng tối đa nhu cầu nguyên liệu sản xuất vật liệu cho nền kinh tế, giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái, cảnh quan.

Phấn đấu đến năm 2030, ngành công nghiệp khai thác, chế biến các loại khoáng sản làm VLXD trở thành ngành công nghiệp hiện đại, áp dụng triệt để các giải pháp công nghệ thông tin, công nghệ định vị vào quản lý và sản xuất.

Ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới thiết bị khai thác, chế biến hiện đại gắn với mô hình kinh tế tuần hoàn, ứng phó biến đổi khí hậu, giảm phát thải khí nhà kính; đáp ứng nhu cầu tiêu thụ trong nước và xuất khẩu các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và lợi thế cạnh tranh.

Đầu tư các dự án khai thác, chế biến khoáng sản làm xi măng và đá hoa trở thành ngành công nghiệp chủ đạo, phát triển bền vững tương xứng với quy mô khoáng sản.

Đồng thời, chấm dứt các hoạt động sản xuất VLXD sử dụng không hiệu quả tài nguyên, gây ô nhiễm môi trường; ưu tiên phát triển vật liệu xanh, vật liệu mới thân thiện môi trường.

Khuyến khích hình thành và phát triển một số doanh nghiệp khai thác, chế biến khoáng sản và sản xuất VLXD quy mô lớn, hoạt động hiệu quả, có khả năng cạnh tranh.

Cấp mới hàng trăm giấy phép khai thác các loại khoáng sản

Với nhóm khoáng sản làm xi măng, giai đoạn đến năm 2030, dự kiến cấp mới các giấy phép thăm dò tại 36 khu vực khoáng sản đá vôi 46 khu vực khoáng sản sét và 31 khu vực các khoáng sản làm phụ gia.

Tiếp tục hoàn thành việc thăm dò, phê duyệt trữ lượng với 14 đề án thăm dò khoáng sản đá vôi, 19 đề án thăm dò khoáng sản sét; 9 đề án thăm dò các khoáng sản làm phụ gia đã được cấp phép.

Tổng trữ lượng thăm dò các khu vực quy hoạch dự kiến đạt được hơn 3,6 tỷ tấn đá vôi; hơn 960 triệu tấn khoáng sản sét và 500 triệu tấn các loại làm phụ gia.

Đến năm 2030, dự kiến sẽ cấp mới các giấy phép khai thác tại 38 khu vực khoáng sản đá vôi, 52 khu vực khoáng sản sét và 34 khu vực các loại khoáng sản làm phụ gia.

Thực hiện 115 dự án khai thác đá vôi với trữ lượng khai thác khoảng 1,76 tỷ tấn; 107 dự án khai thác sét với trực lượng khoảng 350 triệu tấn và 49 dự án khai thác khoáng sản làm phụ gia với trữ lượng khoảng 188 triệu tấn.

Trong giai đoạn 2031-2050, dự kiến cấp mới các giấy phép khai thác tại 44 khu vực khoáng sản đá vôi, 39 khu vực khoáng sản sét và 12 khu vực các loại khoáng sản làm phụ gia.

Thực hiện 154 dự án khai thác đá vôi với trữ lượng khai thác khoảng 4,8 tỷ tấn; 135 dự án khai thác sét với trữ lượng hơn 1 tỷ tấn và 59 dự án khai thác khoáng sản làm phục gia với trữ lượng hơn 478 triệu tấn.

Với nhóm khoáng sản làm đá ốp lát, mỹ nghệ, đến năm 2030 dự kiến sẽ cấp mới các giấy phép khai thác tại 163 khu vực; 32 khu vực khoáng sản thạch anh.

Thực hiện 260 dự án khai thác đá ốp lát mỹ nghệ với trữ lượng khai thác hơn 64 triệu m3 và 32 dự án khai thác thạch anh trữ lượng 10,8 triệu tấn.

Với nhóm khoáng sản làm gốm sứ, vật liệu chịu lửa, dự kiến sẽ cấp mới các giấy phép khai thác tại 67 khu vực khoáng sản cao lanh, felspat, 4 khu vực khoáng sản đất sét trắng, 2 khu vực đất sét chịu lửa.

Thực hiện 104 dự án khai thác cao lanh, felspat với trữ lượng hơn 135 triệu tấn; 5 dự án khai thác sét trắng với trữ lượng 1,9 triệu tấn và 3 dự án khai thác đất sét chịu lửa với trữ lượng 5,8 triệu tấn…

Với nhóm khoáng sản làm kính xây dựng, dự kiến cấp mới các giấy phép khai thác tại 26 khu vực khoáng sản cát trắng; thực hiện 40 dự án khai thác cát trắng với trữ lượng 57,7 triệu tấn.

Chỉ xuất khẩu khoáng sản đã qua chế biến đạt chuẩn

Về quy hoạch chế biến và sử dụng, tăng cường nghiên cứu ứng dụng công nghệ tái chế, tái sử dụng phế thải của các ngành công nghiệp, nông nghiệp làm nguyên liệu, nhiên liệu sản xuất VLXD, giảm sử dụng tài nguyên khoáng sản tự nhiên, giảm ô nhiễm môi trường.

Khoáng sản làm VLXD được khai thác cung cấp nguyên liệu cho các dự án chế biến và sử dụng theo cân đối của nhu cầu thị trường.

Sử dụng khoáng sản trước hết phải ưu tiên cho nhu cầu trong nước, bảo đảm cân đối hài hòa giữa xuất khẩu và nhập khẩu; chỉ xuất khẩu khoáng sản đã qua chế biến đạt tiêu chuẩn xuất khẩu theo quy định.

Đầu tư các dự án sản xuất xi măng phải dự kiến nguồn nguyên liệu chính (đá vôi và sét) nằm trong quy hoạch bảo đảm đủ trữ lượng và chất lượng.

Đầu tư các dự án sản xuất vôi công nghiệp phải dự kiến nguồn nguyên liệu chính (đá vôi, dolomit) nằm trong quy hoạch bảo đảm đủ trữ lượng và chất lượng.

Theo cafeland

Khan hiếm cát, đá: Dự án sân bay Long Thành cũng gặp khó
Gói thầu 4.6 xây dựng đường cất hạ cánh, đường lăn, sân đỗ máy bay sân bay Long Thành dự kiến sẽ thi công bê tông xi măng vào tháng 1/2024 nhưng hiện nay nguồn vật tư, vật liệu, đặc biệt là cát và đá đang có hiện tượng khan hiếm.

 

Theo đại diện liên danh nhà thầu (Tổng công ty Xây dựng công trình hàng không ACC - Tổng công ty Xây dựng Trường Sơn - Tổng công ty CP Xuất nhập khẩu và xây dựng Việt Nam - Công ty CP Phát triển đầu tư xây dựng Việt Nam - Công ty CP Tập đoàn Cienco4 - Công ty CP Xây dựng công trình hàng không 647), thời gian qua, các nhà thầu đã tiến hành thi công gói thầu 4.6 cuốn chiếu theo từng phân đoạn. Toàn bộ nhân lực và phương tiện tập trung thi công đào đắp đất nhằm đẩy nhanh tiến độ. Bên cạnh đó, nhà thầu chuẩn bị nguồn vật tư, vật liệu xây dựng để triển khai thi công bê tông xi măng dự kiến sẽ bắt đầu trong tháng 1/2024.

Tuy nhiên, làm việc mới đây với tổ công tác của dự án Cảng hàng không quốc tế Long Thành (Ban Quản lý vốn Nhà nước), đại diện liên danh nhà thầu cho biết, hiện nay nguồn vật tư, vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát và đá để phục vụ thi công gói thầu 4.6 đang có hiện tượng khan hiếm. Nguồn cung cấp hết sức hạn chế. Bên cạnh đó, các nhà cung cấp còn có dấu hiệu cạnh tranh với nhau, nâng giá các loại vật tư, vật liệu quan trọng này khiến nhà thầu gặp nhiều khó khăn.

Trước những vấn đề đặt ra, ông Nguyễn Ngọc Cảnh, Phó Chủ tịch Ủy ban quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp cho biết, thời gian qua, cả nước đồng loạt triển khai các dự án lớn nên xảy ra tình trạng thiếu cục bộ nguồn vật liệu xây dựng, đặc biệt là cát và đá. Do đó, đoàn công tác ghi nhận tình trạng thiếu vật liệu xây dựng tại dự án sân bay Long Thành để báo cáo Ban chỉ đạo nhằm tìm phương án giải quyết các khó khăn, vướng mắc. Về nguồn cung vật liệu phục vụ xây dựng, ông Cảnh đề nghị tỉnh Đồng Nai xem xét tận dụng các mỏ vật liệu để phục vụ dự án.

Liên danh nhà thầu thi công gói thầu 4.6 kiến nghị chủ đầu tư cho phép được bổ sung thêm các nguồn cung cấp vật tư, vật liệu mới ngoài các nguồn mà liên danh nhà thầu đã đề xuất trong hồ sơ dự thầu nhằm đảm bảo nguồn cung phục vụ thi công.

Về vấn đề này, theo Phó giám đốc Sở TN-MT tỉnh Đồng Nai Nguyễn Ngọc Hưng, để đáp ứng nhu cầu vật liệu xây dựng phục vụ các dự án, đặc biệt là dự án Sân bay Long Thành, thời gian qua, đơn vị đã gửi văn bản đề nghị các địa phương thực hiện tìm kiếm, quy hoạch thêm các điểm khai thác vật liệu để có thể triển khai các thủ tục tiếp theo và tiến tới khai thác sớm nhất trong thời gian tới.

Theo Tiền phong

CÔNG TY TNHH PHÁT TRIỂN ĐẦU TƯ THƯƠNG MẠI NHT

Công ty NHT chỉ sau 10 năm phát triển cùng với hơn 20 năm kinh nghiệm trong ngành thương mại nguyên vật liệu xây dựng và năng lượng. Chúng tôi xuất khẩu xi măng, clinker tới hơn một số quốc gia trọng điểm (Mỹ, Canada, Trung Quốc, Đài Loan, Bangladesh, Campuchia, Lào, Philippine, Cuba, các nước Nam Mỹ.), nhập khẩu thạch cao ( từ Thái Lan và Oman), cung cấp cho các nhà máy xi măng tại Việt Nam. Chúng tôi cũng cung cấp than nhiệt điện cho các nhà máy nhiệt điện (Vĩnh Tân, Duyên Hải, Sông Hậu) và các nhà máy xi măng, và cung cấp dịch vụ vận tải than, clinker, đá. 

THÔNG TIN LIÊN LẠC

operation@nhtcorp.com.vn

(+84)28 7300 6919

150 Trần Não, Phường An Khánh, Thành Phố Hồ Chí Minh, Việt Nam